Siêu Độ: Chuyện Từ Đại Thánh Tự

Chương 5: SIÊU ĐỘ

Hoạt động tại Đại Thánh Tự luôn bận rộn. Mặc dù nơi đây là một tự viện Thiền tông, nhưng không có ai thực sự tu Thiền. Thiền tông không chỉ là một hình thức hành thiền trong những hoạt động hàng ngày, mà còn phải duy trì cảnh giác và kiên nhẫn theo dõi sự biến động của tâm, hiểu rõ chính mình và nhận ra thực tướng của mình.

Tuy nhiên, các hòa thượng ở Đại Thánh Tự lại rất bận rộn, phải di chuyển trong thành phố mà không ngừng. Vì Đại Thánh Tự chuyên tổ chức đám siêu độ, chúng tôi thường phải tổ chức lễ tẩn liệm cho người chết và hợp tác với các dịch vụ tống táng. Chỉ nhờ đó, chúng tôi mới kiếm được ít tiền để sống.

Theo giáo lý Phật giáo, có sáu đường luân hồi, ba cõi lành và ba cõi ác. Nghi thức siêu độ người chết được thực hiện để giúp người chết đầu thai vào cõi thiện và tránh khỏi cõi ác. Nói đơn giản, lễ siêu độ là việc trợ niệm hồi hướng cho người đã mất, để họ có thể được sinh vào cảnh lành.

Tuy nhiên, ngày nay, nhiều người không còn nhận thức cao đẹp này. Lễ siêu độ trở thành thông lệ, trở thành tập quán thâm căn cố đế trong văn hóa người Trung Quốc. Mọi gia đình khi có người mất đều cần có lễ siêu độ, có thầy tụng đám, có kèn, có nhạc. Nhưng thầy tụng đám không phải lúc nào cũng là các vị chân tu, mà là những người kiếm sống bằng nghề tụng đám. Thông qua lễ siêu độ, chúng tôi kiếm được ít tiền để duy trì sinh hoạt trong tự viện.

Thỉnh thoảng, nếu không có công tác siêu độ trong hai, ba ngày, chúng tôi được nghỉ. Vì công tác tụng đám làm cho chúng tôi thiếu ngủ, nên chúng tôi được đánh giấc sau bữa ăn sáng. Nhưng tôi là ngoại lệ, vì tôi mới xuất gia thọ giới, nên phải đảm trách tụng đám cả hai thời khóa. Do vậy, thường tôi phải làm một mình.

Ban đầu, tôi không đánh chuông, gõ trống và các pháp khí khéo léo. Nhưng sau một thời gian ngắn, tôi đã học được cách sử dụng chúng một cách thông thạo.

Người Trung Quốc thường tổ chức nhiều lễ siêu độ như lễ sau 49 ngày mất, lễ giỗ năm đầu, năm thứ ba và nhiều lễ khác. Nếu gia đình đông người, bạn bè đông thì lễ sẽ được tổ chức tại Đại Thánh Tự. Tuy nhiên, điều kỳ quái là gia chủ sẽ mời người khác đến chùa nấu mặn, đốt hương… và sau đám, chùa tràn ngập mặn, tanh hôi khắp nơi. Tình cảnh này khiến tôi khó chấp nhận.

Các hòa thượng thường tụng đám lớn hay nhỏ và mỗi nghi thức siêu độ phải có ít nhất 5 người. Chúng tôi thường phải đến giữ linh, bầu bạn với người đã mất từ 4-5 giờ sáng. Sau đó, chúng tôi về Đại Thánh Tự ngủ 3-4 tiếng và lại bắt đầu làm việc cả ngày. Vì công việc siêu độ vô cùng bận rộn, chúng tôi hầu như không có thời gian để nghỉ ngơi.

Chúng tôi phải làm công tác này để kiếm tiền nuôi cuộc sống. Nhưng ngoài ăn cơm, chúng tôi còn phải lo các chi phí khác như khám bệnh, sửa chữa chùa, phí điện, điện thoại… Do đó, mỗi ngày chúng tôi cần đến ba nơi để tụng đám, mới có đủ tiền duy trì sinh hoạt trong tự viện.

Cũng có những ngày chúng tôi được nghỉ. Nhưng tôi thì không, vì tôi thuộc hàng mới xuất gia và phải đảm trách tụng đám cả hai thời khóa. Tuy chưa được đào luyện, nhưng tôi đã học cách sử dụng các pháp khí và thực hiện lễ đám một cách chuẩn xác.

Trong quá trình học tập, tôi cũng đã gặp khó khăn ban đầu như không đánh chuông đúng, gõ trống sai, dùng sức không đều. Nhưng qua thời gian, tôi đã trở nên thành thạo.

Nhìn lại, việc này thật khó khăn nhưng cũng đáng cười. Tôi học cách đánh chuông, gõ trống và sử dụng nhiều pháp khí như vậy, chỉ để người ngoài đám nghe thấy và tưởng rằng có nhiều hòa thượng đang tụng niệm theo truyền thống của tự viện. Nhưng thực tế, hiện trường chỉ có một chú tiểu Sa-di – là tôi đang độc diễn. Mà chú tiểu này, ngay cả đứng cũng không vững vì thiếu ngủ và cực kỳ buồn ngủ.

Tôi chưa thấy các hòa thượng khác ngồi thiền hay tự tu bất kỳ pháp môn riêng nào. Ngôi tự viện này thậm chí không có một ngôi Thiền Đường hay Pháp Đường.

Theo truyền thống, Thiền Đường là nơi Tăng chúng ngồi thiền và điều tâm. Tuy nhiên, không phải tất cả các chùa ở Trung Quốc đều giống Đại Thánh Tự. Chỉ có ở Thượng Hải mới như vậy, trong khi các chùa khác ở ngoài Thượng Hải vẫn có không gian tu hành đàng hoàng.

Trong thời kỳ chiến tranh Trung – Nhật, nhiều ngôi chùa mới xây và Tăng chúng ngồi thiền tu hành. Nhưng sau khi chiến tranh qua đi, nhiều hòa thượng rời bỏ và các ngôi chùa trở thành hư phế. Tự viện bỗng trở nên phức tạp với sự tụ tập của những người có ý đồ và hành vi tốt xấu đầy đủ.

Chúng tôi thường tham gia tụng đám lớn và nhỏ. Đám nhỏ thì tổ chức đơn giản, còn đám lớn thì phải có nhiều âm nhạc, kèm mời người ngoài chùa vào biểu diễn. Mục đích là tạo cảm giác cho người xem rằng có đông người đang siêu độ cho người đã mất.

Thực tế thì đa số người Trung Quốc không có niềm tin tôn giáo, họ chỉ tham gia lễ siêu độ để mưu lợi cho mình và có đủ tất cả mọi thứ. Nghi thức siêu độ này xuất phát từ tín ngưỡng dân gian, không mang tính tôn giáo.

Thường thì những gia đình giàu có tổ chức nhiều lễ cho người đã mất như lễ sau 49 ngày mất, lễ giỗ năm đầu, năm thứ ba…

Nếu gia đình có nhiều người, bạn bè đông, thì tổ chức lễ tại Đại Thánh Tự. Nhưng rủi thay, gia chủ lại mời dân ngoại đến chùa nấu mặn để lễ xong chùa tràn ngập mặn, tanh hôi khắp nơi. Tình cảnh này khiến tôi rất khó chấp nhận và đã hỏi trụ trì vì sao lại cho phép họ mang rượu thịt vào chùa.

Trụ trì giải thích rằng chúng ta cho họ làm siêu độ ở đây, họ ăn thịt còn chúng ta vẫn ăn chay. Nếu không cho họ làm vậy, họ sẽ không đến làm đám nữa và chúng ta sẽ đói. Chúng ta làm điều này vì kiếm tiền nuôi cuộc sống của chúng ta, vì chúng ta rất khó mà duy trì cuộc sống.

Sau đó, một đám cảnh sát tới Đại Thánh Tự kiểm tra ma túy và tìm thấy. Gian tự viện đã biến thành một kho chứa hàng cấm. Tin xấu đã lan truyền và đối với Phật giáo, đó là một sự cố không hay còn đối với tự viện thì quả là đại nạn. Người ta không còn mời chúng tôi tụng kinh nữa và thu nhập của chùa trở nên rất khan hiếm.

Tuy nhiên, sau một thời gian, mọi việc trở lại bình thường và người ta lại thuê chúng tôi tụng đám. Nhớ lại những ngày tháng ở Đại Thánh Tự, thật hỗn loạn. Không có quy luật sống, các hòa thượng tùy ý đến, đi, sống lộn xộn và cạnh tranh.

Tuy vụ ma túy đã gây tổn thất lớn cho chúng tôi, nhưng trừ những người không đủ đạo nghĩa, chúng tôi vẫn ăn chay và trì giới.

Cuộc sống ngày càng trở nên khó khăn hơn. Một số hòa thượng không tuân thủ giới luật và bị đuổi ra khỏi chùa. Rồi họ cưới vợ, sinh con và sống như bình thường. Nhưng thu nhập từ công tác siêu độ giảm đi. Khi làm việc pháp sự, họ mặc y cũ ra đắp vào.

Vì mỗi pháp sự cần tới năm hòa thượng, các hòa thượng thế tục này liên kết, họp lại thành nhóm. Mỗi lần làm việc, nếu cần, họ có thể dễ dàng huy động đến mấy mươi hòa thượng. Những thầy hoàn tục này nhân số nhiều đến áp đảo cả chúng tôi. Nhưng nếu chúng tôi nhận việc mà thiếu người, cần trợ thủ, thì cũng phải thuê các hòa thượng này. Thế nên, một mặt chúng tôi vừa cạnh tranh, một mặt lại hợp tác.

Cuối cùng, tôi bắt đầu suy nghĩ và nhìn lại những gì đã xảy ra trên con đường xuất gia của mình.

Trong thời kỳ thịnh vượng, Đại Thánh Tự có hơn 20 hòa thượng. Những hòa thượng này chủ yếu đến từ Lang Sơn và chỉ biết tụng kinh, làm đám. Nhưng có những hòa thượng ở nơi khác có tài nhiều hơn. Họ biết hát nhạc, diễn kịch, thổi kèn và có võ. Khi chúng tôi tổ chức nghi thức tống táng, họ biểu diễn và trang hoàng buổi lễ.

Trụ trì Đại Thánh Tự muốn tôi học thổi kèn, sáo và tấu nhạc như họ để tôi có thể biểu diễn cùng. Nhưng do sức khỏe của tôi không cho phép, tôi không thể học được.

Điều này thật may mắn cho tôi, vì nếu tôi học thành thạo một trong những kỹ năng này, tôi sẽ trở thành nghệ nhân biểu diễn chứ không phải tu sĩ. Tôi sẽ mãi sống trong những ngày tháng như thế này, bị giam hãm trong những công việc hạn cuộc và phức tạp. Tôi sẽ không được học, không thể thâm nhập biển trí huệ và thấm nhuần giáo lý Phật. Mặc dù vào thời điểm đó, tôi không thể diễn đạt lý tưởng của mình, nhưng tôi hoàn toàn không muốn sống giống những người khác.

Tôi thèm được học, được nghiên cứu pháp Phật. Đối với tôi, việc học và tu là hai con đường dính liền không thể tách rời.


Lời người dịch:

Thời ngài Hư vân, khi Ngài làm trụ trì, có quyền, Ngài đã mạnh tay tảo trừ tệ nạn, dẹp những phần tử xấu trong chốn già lam, dù Ngài có uy, được các cao quan ủng hộ mạnh, vậy mà vẫn nhiều lần súyt chết, do bị “địch thủ” rút dao phản ứng, đốt chùa, ám hại…

Cho nên ngài Thánh Nghiêm, khi gặp những chuyện xấu, những cảnh tác tệ ngay lúc còn là một chú tiểu nhỏ, thân phận không quyền thế, lại phiêu bạt như nhánh rong trôi giữa dòng, tất nhiên không thể làm được gì để chấn chỉnh… hay đổi mới, ngoài việc kể lại cho chúng ta nghe.

Đến chương này, không dịch thì chẳng trung thực, mà dịch thì giải thích làm sao cho độc giả hiểu (?) rằng tại sao trong chùa, những người đã khoác áo tu sĩ mà lại hành động tác tệ đến vậy?!

Có lẽ thời nào cũng có, cách đây ngàn năm, trăm năm, hay vài chục năm, tâm con người vẫn vậy, có đủ Phật và ma, nên chuyện xảy ra luôn tương tự, cho dù chúng ta biết hay không, cho dù chuyện được kể hay ém nhẹm…

Xin trích lời dạy của Thế Tôn trong KINH ĐẠI THỪA KIM CANG TỰ thay cho lời giải thích, hy vọng quý độc giả sẽ hiểu rõ hơn:

“Muốn cầu chánh đạo đừng tin thầy tà, muốn thoát luân hồi đừng phạm luật nhân quả”.

Này Văn Thù Sư Lợi, sau khi ta nhập diệt rồi, ma Ba tuần có rất nhiều, chúng sẽ trà trộn vào hàng ngũ tu sĩ để phá hoại đạo pháp ta.

Chúng vào chùa cạo đầu, mặc cà sa, xưng là đệ tử Phật, nhưng hành động hoàn toàn trái ngược, nên ta gọi chúng là ngoại đạo, bọn này gồm có sáu hạng:

1- Tuy xuất gia nhưng chung đụng với người đời, họ ăn thịt, uống rượu; làm nhơ bẩn hình tượng Phật, đây là hạng ngoại đạo thứ nhất.

2- Họ dắt vợ con vào chùa, cho học theo tà thuật, gọi là để truyền lại cho đệ tử, họ ăn thịt, uống rượu; song cũng đi làm chay, tụng kinh cho người; đây là hạng ngoại đạo thứ hai.

3- Họ mặc áo tu sĩ nhưng trên không thầy truyền, dưới không thầy chứng, bị ma quỷ ám ảnh, tâm trí mê muội, thấy biết bậy mà tự cho là thông minh; họ chẳng có công phu tu, lại dối xưng thành đạo. Bên ngoài làm in tuồng giống Phật, nhưng trong tâm toàn là tà mỵ, cốt phỉnh lừa người, cố kéo họ vào đường tà, diệt hạt giống Phật… đây là hạng ngoại đạo thứ ba.

4- Còn có kẻ mặc áo tu nhưng ưa vẽ bùa thỉnh chú, đuổi quỷ sai thần, phỉnh gạt người đời, họ gieo rắc ác kiến cho nhiều để chánh kiến bị tiêu diệt, đây là hạng ngoại đạo thứ tư.

5- Họ học bói quẻ, bàn luận kiết hung, xem tướng, tiên tri họa phước… dối chúng gạt người, cốt để tiêu diệt chánh pháp Phật, đây là hạng ngoại đạo thứ năm.

6- Họ bụng trống lòng cao, tự tôn ngã mạn, không tài năng nhưng cứ cho mình giỏi, chưa chứng tự xưng chứng. Học được chút ít thì đã cho mình thấu lý. Họ chẳng chịu ăn chay, chấp theo tà thuyết, dối gạt người không hiểu biết; cho rằng chẳng cần xem kinh, niệm Phật hay tham thiền… chẳng cần tạo phúc, chẳng cần xuất gia thọ giới, chẳng cần tìm thầy học đạo… Họ tự cho sắc thân giả này đồng Phật không khác, dối gạt người khờ, hướng dẫn vào tối đen, khiến người dứt đoạn căn lành, tiêu mầm trí huệ… đây là hạng ngoại đạo thứ sáu.

Sáu ngoại đạo này chính là ma Ba Tuần, đời mạt pháp trà trộn vào hàng ngũ tu sĩ, mang hình thức giống như người tu, song việc chúng làm là nhắm vào mục đích phá hoại giáo pháp ta, toàn chỉ làm những điều trái ngược, có bôi bẩn đạo để người hiểu lầm mà hủy báng chánh pháp Như Lai.”

Related Posts