Hình ảnh Hội Thượng Phật Bồ Tát

Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát là gì?

Linh Sơn Hội Thượng, theo văn tự là nói đến những pháp hội mà Đức Phật thuyết pháp trên đỉnh núi Linh Thứu, bên Ấn Độ. Linh Sơn là tên một ngọn núi, mà tiếng Phạn là Grdhrakuta. Tiếng Trung Hoa dịch là Linh Thứu Sơn, gọi tắt là Linh Sơn.

Đây là nơi Đức Phật lưu trú rất lâu và cũng nơi này nhiều bộ Kinh quan trọng đã được thuyết giảng như: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa suốt 8 năm, Kinh Đại Quảng Minh, Kinh Đại Tập Phương Đẳng v.v… và cũng tại đây, vô lượng vô biên chúng sinh trong các hàng Trời, Người, Bồ Tát, Thánh Văn, Duyên Giác đã được hóa độ sang bờ giải thoát.

Một điều quan trọng nữa là nguồn Thiền và nguồn Tịnh Độ, cũng được truyền tại Linh Sơn Hội Thượng. Vì thế nên khi thành lập Giáo Hội Linh Sơn, Thầy đã chủ trương Thiền Tịnh Sơn Tu. Đó là căn cứ vào nguồn Thiền và nguồn Tịnh Độ đã được chính Đức Phật truyền và giáo huấn tại pháp hội Linh Sơn. Vì sự quan trọng của pháp hội với lịch sử truyền thừa chánh pháp nhãn tắc của thiền tông và đạo lý vi diệu của pháp môn niệm Phật trong Tịnh Độ tông mà câu “Namo Linh Sơn Hội Thượng Phật” đã trở thành câu Kinh nhật tụng.

Nguên văn tiếng Phạn của câu Kinh là:

Namo Gridhrakutagiriuttara Buddhashya Mahabodhisattva cha.

Hôm nay, Thầy sẽ nói về những điểm chính như cảnh trí, lịch sử, truyền thừa, giáo lý, văn hóa, nguồn thiền và nguồn tịnh của Linh Sơn.

1. Cảnh Trí Linh Sơn

Hiện nay, ngọn núi Linh Thứu vẫn còn tồn tại với những di tích lịch sử được kiến tạo từ trên 25 thế kỷ. Những kiến trúc như đền tháp, lâu đài, phòng ốc đã bị băng hoại qua thời gian, nhưng những chân tường, nền mong của kiến trúc vẫn còn và được tu bổ sử dụng để bảo tồn di tích cổ xưa.

Linh Sơn thuộc tiểu bang Bihar của Ấn Độ. Trước đây, tiểu bang này có tên là Bihar Vihara. Vihara, tiếng Ấn là chùa tháp, vì tiểu bang này có rất nhiều chùa tháp. Quý vị nào đã từng đi chiêm bái Phật quốc, đến tiểu bang này đều thấy còn rất nhiều dấu tích của chùa tháp và Phật tích. Tiểu Bang Bihar thuộc vùng Trung Ấn.

Trong một số Kinh Điển Đại Thừa, các Tổ Trung Hoa còn dịch tên núi là Kê Túc Sơn (núi chân gà), có chỗ còn gọi là Kỳ Xà Quật Sơn theo âm chữ Phạn là Grdhrakuta. Nhưng tên phổ thông hơn cả là Linh Thứu Sơn, vì tại núi này, ngày xưa, là nơi cư ngụ của giong chim Thứu (Pisuna Mara). Hiện nay, trên đỉnh Linh Sơn vẫn còn tồn tại những chân tường của căn phòng mà Đức Phật thường cư ngụ. Bên cạnh đó là căn phòng nhỏ hơn của Ngài A Nan, thị giả của Đức Phật.

Từ chân núi lên đến đỉnh, có một con đường mà ngày nay được mang tên là Bimbisarara Road (con đường mang tên Vua Bimbisara – Tần Bà Sa La) vì ngày xưa, Vua Tần Bà Sa La thường dùng con đường này để lên đỉnh núi học đạo với đức Phật. Hai bên đường, thỉnh thoảng còn di tích của những trú phòng để Vua tạm nghỉ chân. Nói về cảnh trí Linh Sơn, trong Kinh có một bài kệ như sau:

Linh Sơn Hội Thượng niêm hoa nhựt,
Ca Diệp thâm truyền hướng thượng kỳ (cơ),
Tùng thử huệ đẳng quan hiển hịch,
Phổ thiên đại địa mãn trường huy.

Bài kệ này nói về một sự tích: Đó là có một ngày kia, trên pháp hội Linh Sơn, Đức Phật đang thuyết pháp; bỗng dưng Ngài ngừng nói và cầm một bông sen giơ lên. Trong pháp hội chỉ có Ngài Mã Hà Ca Diệp, trình trọng đứng lên, cũng không nói một lời mà chỉ nhìn thẳng vào Đức Phật và mỉm một nụ cười (pha nhãn vi tiếu). Nhờ hành động này mà được Đức Phật truyền chúng pháp nhãn tắc cho Ngài.

Từ đó, yên sánh trí tuệ của chánh pháp được đời đời truyền thừa và chiếu soi khắp Tám Thiên Đại Thiên Thế Giới. Tất cả mọi thế giới, không riêng quả địa cầu này mà tất cả các thế giới khác (ngoài trái đất hay thế giới Tây Phương này) đều nhận được đạo lý vi diệu của chánh pháp. Nhớ ân đức của Phật đã để lại cái chân lý nhiệm mầu để cứu khổ cho chúng sinh, mà di tích của Pháp Hội còn tồn tại cho đến ngày nay.

Giáo Hội Nhật Liên Tôn của Nhật Bản đã đề nghị xây dựng một cái tháp để cùng đường Phật tại đỉnh núi Linh Thứu, nhưng đề nghị này không được chính phủ Ấn Độ chấp thuận vì tính chất thiêng liêng của Linh Sơn và để bảo tồn cổ tích. Tuy thế họ cũng đã chấp thuận cho Giáo Hội Nhật Liên Tôn được xây dựng một cái tháp trên đỉnh núi bên cạnh, cũng nằm trong khu vực của thành Vương Xá xưa.

Trong thành Vương Xá xưa có năm ngọn núi thì Linh Sơn là một, ngọn núi có tháp và ngôi chùa Nhật Bản là một ngọn núi bên cạnh. Ngôi tháp của Nhật Bản xây dựng có đường kính tại chân tháp là 100 thước và chiều cao tới đỉnh tháp là 150 thước.

Khi Thầy còn tu học tại Ấn Độ cũng được Giáo Hội Nhật Liên Tôn mời dự lễ khánh thành ngôi tháp. Việc quản trị ngôi tháp này đã được trao cho chính phủ Ấn Độ như một bảo vật cùng đường để nhớ Phật ân đức. Riêng ngọn Linh Sơn và những di tích như tòa Kim Cang là nơi Đức Phật ngồi thuyết pháp cũng như những phòng xá của Ngài và của Ngài Thị Giả A Nan, mặc dù bây giờ chỉ còn có chân tường. Tuy vậy chính phủ Ấn Độ cũng từ chối đề nghị trùng tu, trang hoàng của các quốc gia như Miến Điện, Thái Lan v.v…, mà chỉ tu bổ sơ sài để cố bảo tồn tính chất nguyên thủy được kiến thiết từ hồi Đức Phật tại thế. Đến đây, Thầy muốn mở một dấu ngoặc để nói tới cái vi diệu trong sự giáo hóa chúng sinh, có liên quan tới cảnh trí Linh Sơn.

Như các kinh điển đã nói: Tại đỉnh Linh Sơn, Đức Phật thuyết pháp và hóa độ cho vô lượng vô biên chúng sinh trong các hàng Thánh, Bồ Tát, Thánh Văn, Trời, Người, các loài phi nhơn, Thiên Long Bát Bộ v.v… Quý vị đã từng đi chiêm bái Linh Thứu Sơn, đã chụp nhiều hình ảnh của núi Linh Thứu, chắc nhiều vị cũng đặt vấn đề: Tòa Kim Cang của Đức Phật ngồi thuyết pháp trên đỉnh Linh Sơn chỉ là một cái bệ nhỏ, ngang dọc mỗi bề khoảng 2 thước tây, chung quanh tòa Kim Cang là sườn núi dốc, có chỗ dốc nhiều, có chỗ dốc thoải thoải. Theo kinh điển thì Đức Phật, mỗi lần thuyết pháp, có 1250 đệ tử đến nghe, chưa kể các Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di và các hàng chúng sinh khác.

Theo con mắt phàm phu, chúng ta thấy thì chừng quanh tòa Kim Cang chỉ có thể chứa nổi một hai trăm người; làm thế nào mà có thể có vô lượng chúng sinh đến nghe Pháp? Đây chính là chỗ vi diệu của Pháp Hội Linh Sơn.

Trong Kinh thường nói, trước khi Phật nói những bài pháp quan trọng hay giản giao lý vi diệu, Ngài thường nhập định Tâm Muội, rồi từ tường bạch hào (sợi lông trắng trong suốt dài xoắn trên trán) phồng lên vô lượng hào quang chiếu soi tới các cõi Phật trong mười phương, rồi âm thanh sáu điệu vang lên, rung động cả Phổ Thiên Đại Địa. Mỗi lần những hiện tượng đó xuất hiện thì chư Đại Bồ Tát, các hàng thiên nhân trong cõi Trời Phạm Thiên, Đế Thích, Thiên Long Bát Bộ v.v… đều vãn tập về tham dự pháp hội. Tự nhiên, do thần lực của Phật, chừng quanh núi Linh Thứu dường như rộng dài hơn. Mỗi mỗi đại chúng nhất là các đệ tử vẫn thường theo Phật, bất luận là ngồi gần hay xa, đều nghe rõ ràng những lời thuyết pháp và người nào cũng cảm thấy lời thuyết pháp của Phật dường như chỉ để nói riêng với mình. Vì vậy nên trong mỗi Kinh, đều có người đứng lên hỏi Phật và xin Phật giản giải những mối nghi của họ hay của chúng sinh.

Thí dụ như trong Kinh Đại Thừa Kim Cang Luận, Đức Phật giản giải những mối nghi của Ngài Văn Thù Sư Lợi. Trong Bát Nhã Tâm Kinh, Đức Phật giản giải cho Ngài Xá Lợi Phất và trong Kinh Kim Cang thì Ngài giản giải cho Tôn Giả Tu Bồ Đề, còn Kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì các Bồ Tát, Thánh Văn, đệ tử của Đức Phật thấy nhau đứng lên bách Phật những kiến giải và những mối nghi của mình v.v…

Mấy nghìn năm về trước, làm gì có những phương tiện tối tân về âm thanh như ngày nay. Vậy mà khi Đức Phật thuyết pháp thì tất cả chúng sinh Bồ Tát, Hiền Thánh, Trời, Thần và người phàm phu như các đệ tử của Ngài đều nghe rõ ràng. Đó là sự vi diệu của Tâm. Tâm Phật là tâm thành tịnh, bao trùm khắp hư không, pháp giới, là tâm đại từ, đại bi với tứ hoằng thệ nguyện, nên âm thanh từ tâm ấy phát ra không bị chướng ngại ngăn che, không chỗ nào là không tới được. Người nghe pháp cũng nhất tâm nhất đức nghe bằng cái tâm thành tịnh, liền nhận được làn sóng âm thanh vi diệu từ tâm Phật in ngay vào tâm mình. Đây chính là chỗ bất khả thuyết, bất khả luận của cái mà ngôn ngữ thế gian tạm gọi là tâm truyền tâm hay tâm tâm tưởng ấn.

Vì vậy, khi quý vị có cái phước duyên đi chiêm bái Phật tích, phải dùng cái tâm thành tịnh để chiêm bái thì sẽ nhận được cái vi diệu bất khả tư tưởng đó. Nhiều người đến chiêm bái đã cảm nhận được cái vi diệu của tâm Phật liên quan đến cảnh trí Linh Sơn, mà nhận ra sự hiện hữu thường hằng của Pháp Thân Tỳ Lô Xá Na nên không mấy người cầm được những giọt lệ cảm hoài. Như Tổ Tĩnh Am, khi thuyết giảng về “Phát Bồ Đề Tâm”, đã nói lên hai mối cảm hoài: Ngài buồn vì mình phước mỏng nghiệp dày nên không được sinh ra trong thời Đức Phật còn tại thế để được nhìn thấy kim thân Phật; nhưng Ngài lại cảm thấy hoan hỷ vì đã cảm nhận được Pháp Thân Tỳ Lô Xá Na Phật thường hằng và còn có phước duyên được nghe chánh pháp. Khi cảm nhận được cái lý đạo vi diệu đó thì sẽ nhận thấy Phật nhập niết bàn tại Rừng Câu Thi Na (Kushinagar), Phật đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) chỉ là sự thị hiện để cứu độ chúng sinh mà thôi.

Thâm nhập được lý đạo vi diệu đó thì sẽ nhận ra rằng chơn thân của chư Phật bà đời không hề sinh ra và không hề nhập diệt. Tâm của chư Phật vẫn hằng hữu trong thế giới hiện tưởng này, ngay bây giờ và ở đây, ngay trong tâm của mỗi chúng sinh. Vì vậy, câu Kinh ‘Namo Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát’ có nghĩa là tại Pháp Hội Linh Sơn, tâm Phật, tâm Bồ Tát và tâm chúng sinh đã trở nên thành tịnh, như nhất như và nhập vào biển tâm của pháp giới. Cũng không có thời gian nào, thực sự, gọi là Chánh Pháp, Thượng Pháp và Mạt Pháp mà chỉ có phật pháp vĩnh hằng với Pháp Thân Tỳ Lô Xá Na mà thôi.

Đó là cái ý của Thầy khi nói với quý vị về cảnh trí Linh Sơn. Nếu quý vị vẫn chưa thâm nhập được cái lý đạo vi diệu đó thì Linh Sơn chỉ là tên một ngọn núi như tên của hàng ngàn ngọn núi khác, rồi cũng sẽ hao mòn và hoại diệt cùng thời gian.

Hình ảnh Hội Thượng Phật Bồ Tát đẹp, khổ lớn có thể in tranh

Kính mời quý Phật tử xem thêm nhiều hình Phật khác: https://www.niemphat.vn/hinh-phat