Tu tâm dưỡng tính

Có người cho rằng tu là phải cạo râu tóc, mặc áo nâu sòng, hay áo cà sa, vào ở trong chùa, tức là phải có hình tướng nhà sư, phải là tu sĩ mới gọi là “người tu”. Hoặc rộng rãi hơn một chút, có người cho rằng phải biết ăn chay, thường xuyên đi chùa, tụng kinh, niệm Phật, làm công quả, làm Phật sự, làm việc chùa, mới gọi là người tu. Hiểu như vậy không hoàn toàn sai, nhưng chúng ta chỉ mới chú ý đến phần “sự”, tức là phần hình thức, hình tướng bên ngoài của một người tu mà thôi. Hay nói cách khác, những điều đó chỉ là “điều kiện có” của một người tu, dù là xuất gia tu sĩ hay tại gia cư sĩ, chứ chưa phải là “điều kiện đủ” để thành một người tu thực sự theo đạo Phật.

Đạo Phật không chú trọng nhiều đến hình thức, hình tướng, nhưng không phải không cần có hình thức, hình tướng bên ngoài. Tuy vẫn cần phải có hình thức, hình tướng bên ngoài, một người tu đồng thời cũng phải có chất lượng, có nội dung bên trong, gọi là phần “lý”, cả hai phải được vẹn toàn, phải “lý sự viên dung” mới gọi là tu đúng Chính Pháp.

Trước hết nói về phần sự, tức là phần hình thức, hình tướng bên ngoài, chúng ta thảy đều đồng ý là một người tu cần phải có hình thức trang nghiêm thanh tịnh. Nghĩa là một người tu cần phải ăn mặc tề chỉnh, đi đứng đàng hoàng, thái độ chững chạc, cử chỉ khoan thai, nói năng lễ độ, hòa nhã khiêm tốn. Không ai có thể chấp nhận một người ăn mặc lôi thôi xốc xếch, đi đứng nghiêng ngửa, nói năng hồ đồ, cử chỉ thô tháo, là một người tu chân chính, ngoại trừ trường hợp các bậc thánh nhân trong các chuyện cổ tích.

Cũng trong phần sự, nói chung người tu là người ăn hiền ở lành, không làm việc gì bất thiện, khổ người hại vật, luôn luôn giúp đỡ bất cứ ai, khi cần đến.

Tuy nhiên, phần quan trọng hơn cả chính là phần “lý”, tức là phần nội dung bên trong, phần tâm tính chủ yếu, phần ý nghĩa của những việc làm bên ngoài trên đây. Nghĩa là một người tu cần phải giữ gìn giới luật, tụng kinh, niệm Phật, thiền quán, tu tập thiền định, phát triển trí tuệ bát nhã, đi chùa, làm tất cả mọi công việc đem lại ích lợi cho mình và cho người, một cách chí công vô tư, không phân biệt, không thành kiến. Phần lý này được tóm gọn trong bốn chữ, đó là TU TÂM DƯỠNG TÍNH vậy.

Nếu một người tu chỉ biết lo phần sự, chỉ biết lo trau chuốt hình tướng bên ngoài, chỉ biết lo làm những việc hình thức, không có phần lý, không thực sự thông hiểu và không thực hành Chính Pháp, thì đó chỉ là cái thùng rỗng, chỉ có cái võ, không có ruột.

Một người chỉ biết tu hình thức như vậy, dù có cạo tóc vào ở trong chùa, trong tâm vẫn còn đầy dẫy phiền não, chỉ biết học những nghi lễ cúng kiến mà không hiểu ý nghĩa cao siêu của các nghi lễ đó.

Họ không chịu nghiên cứu tìm hiểu Chính Pháp, ngọn đuốc trí tuệ tắt ngỏm, cho nên chư Tổ gọi những người như vậy là “tu mù”. Người thế gian thường gặp họ trong các tang lễ, nên gọi họ là “thầy tụng đám ma”. Một người chỉ biết tu hình thức như vậy, không có ích lợi gì cho chính bản thân họ, ngoài lợi dưỡng, không có ích lợi gì cho những người chung quanh, và nhất là không ích lợi gì cho đạo pháp cả.

Khi đến chùa lễ Phật, tụng kinh, cúng kiến hay thọ tam qui ngũ giới, Phật Tử chúng ta thường nghĩ rằng: chắc là từ đây về sau, chư Phật sẽ phù hộ độ trì cho được bình an, mọi mong cầu được vạn sự như ý, và cuối cùng, sau khi lìa bỏ cõi đời này, chúng ta sẽ được chư Phật rước về miền cực lạc. Như vậy chúng ta chưa phải là Phật Tử chân chính.

Thọ tam qui tức là qui y Tam Bảo, gồm Phật Pháp Tăng, và nguyện giữ năm giới là sát, đạo, dâm, vọng, tửu. Nói cách khác, qui y Tam Bảo rồi, chúng ta không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.

Thực ra, kể từ ngày đó, việc chúng ta phải làm là cố gắng sửa đổi tâm tính của chúng ta, phải quyết chí chừa bỏ những thói hư, tật xấu, phải chiến thắng những tâm niệm tham lam, sân hận, si mê, phải từ bỏ những lời nói ác độc, gièm xiểm, ganh tị, đố kỵ, phải từ bỏ những hành động xấu xa, gian ác, bất thiện, sát nhân hại vật, phải từ bỏ những ý nghĩ lợi mình hại người, khen mình khinh người.

Kể từ ngày đó, chúng ta phải sống theo hạnh của chư Phật, chư Bồ Tát, làm lành lánh dữ, làm theo những lời dạy quí báu của chư Phật, chư Bồ Tát, chư vị Tổ sư, giữ gìn tâm ý cho thanh tịnh. Đó chính là tu tâm dưỡng tính vậy.

Chúng ta thường nghĩ tu là nương tựa, là cầu xin với chư Phật để thỏa mãn mọi mong cầu và qui y Phật, theo Phật, thờ cúng Phật, lạy Phật, sẽ được bình an suốt đời. Bởi vậy cho nên chúng ta trở thành yếu hèn, ỷ lại, mất hết ý nghĩa cao đẹp của chữ “tu”.

Do bản chất của con người là tham lam, yếu đuối và sợ hãi, dù là Phật Tử thuần thành, đi chùa lễ Phật, tụng kinh thường xuyên, chúng ta cũng không tránh khỏi những tâm bệnh nói trên, cho nên không tránh khỏi những phiền não và khổ đau của cuộc đời.

Do lòng tham lam sâu đậm từ vô thủy cho đến ngày nay, chúng ta qui y Phật với lòng mong cầu thỏa mãn những ước mơ thầm kín, thường là quá sức để thực hiện. Chúng ta thỉnh thoảng đến chùa, hay thậm chí cạo tóc vào ở luôn trong chùa hằng chục năm dài, nhưng không chú ý đến việc học đạo, không màng đến những giáo pháp cao siêu trong các kinh điển, không học hỏi các bậc thiện tri thức, để tự tu tâm dưỡng tính theo lời Phật dạy.

Chúng ta thường đến chùa chỉ để cầu bình an, xin may mắn, khấn vái điều này, van xin điều nọ, khi gặp khó khăn, lâm cảnh khổ nạn, bèn tự kêu lên: “Phật ơi, cứu con!”, người đời quen gọi, đó là “tu hú”! Chúng ta sống lây lất cho qua ngày tháng trong niềm mê tín như vậy, để chờ ngày được Phật rước về miền cực lạc. Thật là vô minh, làm uổng phí cả cuộc đời hiện tại vô cùng quí báu!

Chỉ mang đến chùa có một bó nhang, một nải chuối, một bình hoa, đóng góp một ít tiền ấn tống kinh sách, hoặc đăng báo lời nguyện với hai ba câu niệm Phật và Bồ Tát, chúng ta cầu nguyện, khấn vái, van xin, đủ thứ chuyện. Nào là thân thể khỏe mạnh, gia đạo bình an, bệnh tiêu tật hết, con cái giàu sang, buôn may bán đắt, nhất bổn vạn lợi, thắng chuyện kiện thưa, được tiền bạc triệu, tình duyên tốt đẹp, thi đâu đậu đó, tai qua nạn khỏi, vạn sự kiết tường, muôn sự như ý, tùy tâm mãn nguyện, quyến thuộc siêu sinh, thân nhân trường thọ, nghĩa là chúng ta mong cầu đủ mọi thứ trên trần đời.

Với cái giá cầu nguyện rẻ mạt như vậy, chúng ta van xin đủ những điều mà chư Phật đã dứt bỏ, và khuyên chúng ta nên dứt bỏ, để tu tập cho đến chỗ giác ngộ và giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi.

Vì không chịu học đạo cho nên chúng ta mới sai lầm như vậy. Làm như vậy, có phải là chúng ta đã phỉ báng Phật, đã làm sai lời Phật dạy? Chúng ta không hiểu luật nhân quả, nghĩa là ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão, sinh sự sự sinh, gieo nhân nào gặt quả nấy, cho nên chúng ta dễ dàng phạm tội tạo nghiệp, dùng thủ đoạn thưa kiện, kiếm được nhiều tiền, cúng Phật chút đỉnh, tự kỷ ám thị, để mong cầu hết tội, chạy tội, xóa tội.

Nếu thực tâm muốn sạch tội, chúng ta phải biết pháp sám hối để diệt trừ nghiệp chướng, phiền não và khổ đau, tức là phải biết những lời dạy của chư Phật, phải học hỏi Chính Pháp.

Mọi phiền não khổ đau trên đời đều từ gốc vô minh mà ra. Muốn hết phiền não khổ đau, muốn được giải thoát, muốn được an lạc và hạnh phúc, chúng ta phải giác ngộ. Muốn được giác ngộ, chúng ta phải học hỏi giáo pháp, tức là những lời Phật dạy, để tự ứng dụng tu tập cho đúng Chính Pháp, để tự tu tâm dưỡng tính.

Được như vậy, chúng ta sẽ mở mang trí tuệ bát nhã với ngọn đuốc Chính Pháp của chư Phật, để cương quyết, can đảm, kiên trì, nổ lực, tinh tấn tu hành, cho đến ngày giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Muốn hiểu được lời Phật dạy, muốn được hưởng pháp vị một cách thấm thía, nồng nàn, chúng ta phải tận lực suy tư, nghiền ngẫm Chính Pháp một cách tường tận, tinh vi. Đồng thời, chúng ta phải áp dụng Chính Pháp vào trong đời sống hằng ngày.

Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:

“Hãy tự thắp đuốc, tự mình bước đi. Thắp sáng trí tuệ, ngọn đuốc chính pháp.”

Nghĩa là: Đức Phật dạy chúng ta hãy tự quán chiếu, tự soi sáng trí tuệ của mình bằng cách học hỏi giáo pháp, để tự chuyển hóa ba nghiệp thân khẩu ý của mình cho được thanh tịnh, hay nói cách khác, để tự tu tâm dưỡng tính.

Theo lịch sử, vào thời đó, lúc Đức Phật còn tại thế, Ngài không thể cứu được các vị đại đệ tử của Ngài, khi nghiệp báo của họ đến. Ngay bản thân của Đức Phật cũng bị những khổ nạn, cũng gặp những khó khăn do ngoại đạo gây nên, thì thử hỏi, chúng ta không chịu tự tu tâm dưỡng tính, tự thắp đuốc lên mà đi, tự cứu chính mình, mà chỉ một mực cầu nguyện, van xin, khấn vái đủ điều như trên, liệu có được gì chăng?

Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy: Dù có lên non, xuống biển vào hang, nghiệp báo đã mang, vẫn theo con người như hình với bóng, không ai có thể tránh khỏi thoát khỏi.

Nghĩa là nếu chúng ta không biết tự tu tâm dưỡng tính, để chuyển hóa ba nghiệp, thì dù cho có van xin, cầu khẩn đến đâu, hay thay hình đổi dạng, làm vua hay thường dân, làm cư sĩ tại gia hay tu sĩ xuất gia, làm tín đồ hay làm giáo chủ, dù như thế nào đi nữa, chúng ta cũng không tránh khỏi khi nghiệp báo đến. Đó chính là luật nhân quả vậy.

Có vị giáo chủ đương thời khi ra tiếp xúc với công chúng, đứng ở trên xe hơi, trong lồng kính chống đạn, vì sợ bị ám sát. Thượng đế còn không cứu được khi con người đến lúc phải trả nghiệp, huống gì là cái lồng kính! Cũng vậy, tục ngữ có câu: “Chạy trời không khỏi nắng”, chính là nghĩa đó vậy.

Chắc mọi người ai cũng thừa nhận rằng: tất cả chúng ta đều sẵn có hai thứ tâm địa, đó là tâm hiền lương và tâm bất lương. Tâm hiền lương là cái nhân đem lại cái quả an lạc và hạnh phúc cho mình và cho người, đời này và nhiều đời sau. Tâm bất lương ác độc là nhân đem lại quả phiền não và khổ đau cho mình và cho người, đời này và nhiều đời sau.

Tu là dẹp bỏ tâm bất lương ác độc, phát triển tâm hiền lương. Tu là điều kiện tất yếu cho tất cả mọi người muốn hết khổ được vui, không phân biệt bất cứ ai, bất cứ giới nào. Người nào còn chất chứa tâm niệm bất lương ác độc, thì cầu nguyện bình yên chỉ hoài công mà thôi, cũng như người uống nhằm độc dược mà lại chưa muốn chết! Tư tưởng yếu hèn và ích kỷ khiến chúng ta nghĩ đến việc trao gửi thân mạng của chúng ta và của gia đình cho chư Phật, nhờ chư Phật phù hộ, độ trì hết thảy mọi việc được bình an khi còn sống, được về miền cực lạc khi từ giã cõi đời. Những người này cung kính Đức Phật như một vị thần linh hộ mạng, tưởng như Đức Phật có