Hình Ảnh Thuyền Bát Nhã

Thuyền Bát Nhã là gì?

Thuyền Bát Nhã là một phương pháp dạy học trong Phật giáo, lấy ví dụ từ cuộc sống hàng ngày để giảng dạy những bài học quý báu của Phật. “Thuyền” chỉ đề cập đến các loại thuyền, bè, ghe đi lại trên sông và biển. “Bát Nhã” là trí tuệ, một loại trí tuệ sâu sắc và tận chân tường của ngàn pháp trên thế gian, không có thực thể thực tế. Bát Nhã giúp hành giả đi đến sự giác ngộ và giải thoát vì giác ngộ là cơ sở của sự giải thoát. Thuyền Bát Nhã là tàu trí tuệ có thể chở hành giả vượt qua biển khổ và biển tử để đến với bến bờ Niết Bàn của sự giải thoát và an vui.

Đối với đệ tử Phật, chúng ta thường cảm thấy gần gũi với bài Bát Nhã Tâm Kinh mà thường trì tụng hàng ngày. Bát Nhã Tâm Kinh đóng vai trò quan trọng trong các thời kinh của chúng ta, bắt đầu với Chú Đại Bi, biểu trưng cho lòng từ bi, và kết thúc với Bát Nhã Tâm Kinh, biểu trưng cho trí tuệ. Từ lòng từ bi và trí tuệ, chúng ta có thể bay vào cõi an lạc và giải thoát. Cuối bài kinh có câu thần chú “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tang yết đế, bồ đề tát bà hạ”, dịch là “Đi qua, đi qua, qua bờ kia, qua đến bờ kia, vui thấy”. Cụm từ “ba la tang yết đế” (qua đến bờ kia) và từ “Ba La Mật Đà” là “Đạo Bi Ngạn”, có nghĩa là “qua đến bờ kia”. Bờ kia là cõi Niết Bàn, an lạc và giải thoát. Để vượt qua sóng mê, biển ái tránh khỏi sự khổ đau và tìm được niềm vui, hành giả phải bước lên thuyền Bát Nhã để vượt qua pháp tu Bát Nhã Ba La Mật Đà. Có ba giai đoạn: Văn Tự Bát Nhã, Quán Chiếu Bát Nhã và Thật Tướng Bát Nhã. Với tinh thần này, các tổ đức đã nghĩ đến pháp dụ Thuyền Bát Nhã để giúp cho hành giả dễ dàng suy ngẫm và ứng dụng pháp tu Bát Nhã vào trong đời sống hàng ngày của mình để có an lạc và hạnh phúc.

Bát Nhã Tâm Kinh được viết ngắn gọn, chỉ có 260 chữ, so với 4.500.000 chữ, 25.000 câu của Bộ Đại Bát Nhã 600 quyển. Bát Nhã Tâm Kinh là một phần nhỏ của Kinh Đại Bát Nhã, một trong những bộ Kinh Điển của Phật Giáo. Đức Phật đã truyền bản kinh này nhiều lần trong vòng 22 năm ở 4 địa điểm khác nhau, bao gồm Linh Thứu Sơn, Tịnh Xá Kỳ Hoàn, Cung Trời Thái Hóa Tự Tại và Tịnh Xá Trúc Lâm.

Để trở thành hành giả trên Thuyền Bát Nhã và vượt qua sóng mê biển ái, chúng ta phải đi ngăn cản bằng bốn tiến trình tu tập: Văn tự Bát Nhã, Quán Chiếu Bát Nhã và Thật Tướng Bát Nhã. Văn tự Bát Nhã là phương tiện để hành giả nhìn vào văn tự, ý nghĩa của các từ để nhận ra rằng mọi thứ đều là tạm thời và luôn thay đổi. Quán Chiếu là quan sát, nhìn thấu chân tường của vạn pháp là không có thực thể nhất định. Thật Tướng Bát Nhã là nhờ hành giả quan chiếu vạn pháp là vô tướng nên phát sinh ra trí tuệ, nhờ trí tuệ này mà hiểu rõ được tất cả tự tánh, thật tướng, vô tướng của vạn pháp. Văn tự Bát Nhã có thể được ví như chiếc thuyền, Quán Chiếu Bát Nhã được xem như hành giả ra sức chèo, Thật Tướng Bát Nhã xem như hành giả qua đến bờ bên kia. Theo Đại Sư Thái Hư, một người có công chẩn hưng Phật Pháp của Trung Hoa vào đầu thế kỷ 20, dạy rằng: Hành giả tu đạo giải thoát ví như người muốn qua sông, người ấy bước lên thuyền, nhưng người ấy ngồi đó chơi mà không chịu chèo thuyền, thì mãi mãi không bao giờ thuyền qua đến bờ bên kia được. Đây là sự nhắc nhở khéo léo cho người tu học Phật ngày nay, chỉ biết thích thú giai đoạn đầu là đào sâu, nghiên cứu văn tự, ngôn ngữ của kinh điển rồi ngủ quên luôn trong rừng chữ nghĩa đó mà không tiếp tục cuộc hành trình tiến về phía bờ sông, để lên thuyền và chèo thuyền. Căn bệnh này về sau chính Đại Thi Hào Nguyễn Du của Việt Nam đã thố lộ rằng: “Ngã độc Kim Cương thiên biến linh, kỳ trung áo chỉ đà bất minh”, có nghĩa là: “Kim Cương đọc đến ngàn lần, mà trong mờ ảo như gần như xa”. Rõ rằng như thế, đối với chúng ta, một đời đọc tụng, thọ trì Bát Nhã Tâm Kinh đến hàng vạn lần, nhưng chưa một lần ngộ nhập được lời khai thị mà Đức Phật đã dạy trong bản kinh này “Bồ Tát Quán Tự Tại khi quan chiếu thâm sâu Bát Nhã Ba la mật, thì soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn”. Tất cả chúng ta đau khổ và trầm luân trong sinh tử là do chúng ta bị dính kẹt trong tấm thân năm uẩn này, muốn hết khổ được vui, phải hạ quyết tâm một lần để trực nhận hợp thể năm uẩn là không. Đó là mục tiêu tối cao và không có con đường nào khác của người tu học Phật.

“Chiếu kiến năm uẩn giải không” là nhìn thấy năm hợp thể năm uẩn đều là không. Toàn bộ hệ tư tưởng kinh điển Bát Nhã chỉ nhắm vào một chữ Không này để giúp cho hành giả nhìn thấu tận cội nguồn của vạn pháp, tất cả mọi thứ trên trần gian này đều ở trong trạng thái là tự tánh Không, không có một tự thể sẵn có, mà phải mượn các yếu tố giả duyên khác để tạo thành.

Năm uẩn là năm yếu tố tạo thành con người, gồm có thân (sắc uẩn) và tâm (thọ, tưởng, hành và thức uẩn).

1/ Sắc uẩn: Thuộc về thân, chỉ hình hài của con người (mắt, mũi, tai, lưỡi, thân), sắc còn chỉ vật chất bên ngoài như đất, nước, núi sông, cây cỏ, đường xá, nhà cửa,… Sắc uẩn là chỉ thân xác của chúng ta, được kết hợp từ tinh chất huyết mẹ qua 4 yếu tố: Đất, nước, lửa, gió (địa, thủy, hoả, phong). Thân được tạo thành từ từng thành phần (địa) như xương, thịt, răng, tóc, lòng, móng…; thủy (nước) là chất lỏng như máu, mồ hôi, nước miếng…; phong (gió) là hơi thở ra vào; hoả (lửa) là nhiệt. Nếu thiếu một trong bốn yếu tố này ta sẽ chết và mọi quản trị trong cơ thể là chưa thể thực hiện được nó, nó nằm ngoài tầm kiểm soát của ta, thân ta là do giả duyên hợp lại mà thành, chứ không có tự thể nhất định, nên gọi đó là sắc uẩn, sắc uẩn là không.

2/ Thọ uẩn: Thuộc về tâm, là cảm giác vui, buồn, không vui không buồn. Cảm xúc của chúng ta cũng không thật có, nếu ta có vui, có buồn, hoặc không vui không buồn phải đi ngăn cản bằng sự tiếp xúc của lục căn với lục trần như mắt nhìn thấy màu sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý thức phân biệt. Ví dụ như tai tôi nghe bản nhạc “Mừng Phật Đản Sinh”, tôi cảm thấy vui, nhưng tôi buồn khi nghe bài “Tâm sự người cài hoa trắng”, trong khi nghe bài hòa tấu Piano “Sonata 32” của Beethoven, tôi có cảm xúc trung hòa, không vui, không buồn. Cảm giác vui, buồn và không vui, không buồn này cũng không thật có mà phải mượn âm nhạc để nó xuất hiện trong tâm tôi, nên Phật dạy thọ uẩn là không.

3/ Tưởng uẩn: Thuộc về tâm, là tri giác, nhận biết mọi âm thanh, màu sắc, hình tượng, hồi tưởng về quá khứ, tưởng tượng hiện tại và tương lai… Ví dụ như ban đêm tôi nhìn thấy cục đá bên lề đường mà tưởng đó là con chó. Tưởng uẩn cũng là không thật có và luôn sai lầm vì nó bị chi phối bởi ký ức của quá khứ và trạng thái điên đảo của hiện tại và tương lai, nên tưởng uẩn là không.

4/ Hành uẩn: Thuộc về tâm, những hoạt động tâm lý sau khi có tưởng, có 2 nghĩa thiên lưu và tạo tác. Thiên lưu là dòng chảy của suy tư; tạo tác là 51 tâm sở thiện, bất thiện và vô ký, ví dụ như tâm ý vui thích, ghét bỏ, chú ý, đánh giá, quyết tâm, tỉnh giác. Hành là đối tượng đã tạo nên nghiệp thiện ác. Hành do tưởng mà có, và cũng tùy duyên mà dấy khởi, chứ không thật có, nên hành uẩn là không.

5/ Thức uẩn: Thuộc về Tâm Vương (có 8), là sự nhận thức phân biệt, như mắt thấy màu sắc, phân biệt đẹp xấu, tai nghe âm thanh, phân biệt âm thanh lớn nhỏ, mũi ngửi mùi, phân biệt mùi thơm hôi, lưỡi nếm vị, phân biệt vị mặn hay ngọt, thân xúc chạm, phân biệt lạnh hay nóng. Thức tự bản thân không tự có, mà do sáu căn tiếp xúc với sáu trần mới có phân biệt, nên thức uẩn là không.

Qua sự phân tích của năm uẩn như trên, tôi không thấy cái uẩn nào là của tôi cả, và năm uẩn đều không có thực thể riêng biệt, không có chủ thể nhất định. Vì vậy, suốt ngày tôi lầm tưởng rằng năm uẩn này là thật có, để rồi tôi tự gây đau khổ cho mình và cho người. Trong Kinh Kim Cang Bát Nhã Mật, Đức Phật cũng dạy để nhận ra các pháp là tự tánh không rằng:

” Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bao ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán

Ý nghĩa hàm chứa:
Các pháp thế gian thuộc hữu vi
Như đêm đông giấc mơng đông thùy
Như đồ giả dối khôn bền chắc
Như bọt nước tan mất cấp kỳ.
Như bóng trong gương nào phải có
Như sương giọt nắng chẳng còn chi
Như luồng điện chớp làm gì có
Quán xét như vầy mới thật tri.”

Quán xét như vậy để hành giả không rơi vào đau khổ, lo âu, sợ hãi khi vô thường đến. Đặc tính chung của năm uẩn là sinh diệt, vô thường, vô ngã và khổ. Kinh Bát Nhã được Đức Phật nói đi nói lại nhiều lần ở nhiều nơi khác nhau chủ yếu để phá bỏ năm uẩn này. Ngày nào chúng sinh chưa phá bỏ được bức tường thành kiên cố của năm uẩn này thì ngày đó chúng sinh vẫn tiếp tục luân hồi đau khổ và ngược lại, một khi thấu rõ bản chất của năm uẩn là không thật có, hành giả sẽ tự tại giữa đôi bờ sinh tử. Bản chất khổ, vô thường và vô ngã của năm uẩn là một điểm then chốt mà hành giả phải nhìn cho rõ, vì sự đau khổ bắt nguồn từ sự mông lung mà năm uẩn, trong khi năm uẩn là thành tố tạo ra con người với những giả duyên mà đã là giả duyên nên không có bất kỳ một cái “tôi” nào thật sự đứng đằng sau con người đó. Liệu đạt được tính vô ngã của năm uẩn là hành giả đứng ở trên Thuyền Bát Nhã để tiến về bờ giải thoát.

Trong phần còn lại của Kinh Bát Nhã, theo sau sáu bức tường điệp “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba La Mật Đà thời, chiếu kiến năm uẩn giải không, độ nhất thiết khố ách”, là sự phá bỏ, phủ nhận tất cả những quy ước về con người, về pháp môn tu tập, về các tầng bậc chứng đắc. Với 7 chữ “Không”, 5 chữ “Bất” và 14 chữ “Vô” của bản kinh này đã khẳng định rằng tất cả mọi thứ trên trần gian đều là Không. “Không” ở đây không phải không đối với cái “có” mà “không” ngay tại chỗ cái đang có, mắt có thể nhìn thấy, tay có thể xúc chạm nhưng chủ thể của nó vẫn là Không, nó không cố định, không thật có, nó có là do giả duyên hợp lại mà có, dù có đó nhưng duyên tan thì lập tức nó hoại diệt, nên Bát Nhã gọi là tự tánh Không. Ví dụ như tôi tự hỏi chiếc xe Toyota Camry mà tôi đang lái, cái gì là xe? Ai là chủ thể của chiếc xe? Vô lăng là chủ thể? 4 bánh là chủ thể của xe? Động cơ là chủ thể của xe? Hay kỹ sư cơ khí là chủ thể của xe?… Tất cả đều không phải, chiếc xe này là do nhiều yếu tố, nhiều giả duyên tổng hợp lại để tạo thành, nếu thiếu một trong hàng trăm yếu tố kia, chiếc xe không bao giờ thành. Con người cũng vậy, cái gì là con người? Sự thật con người chỉ là cơ bản, đầu, mình, tay, chân… cùng với những tình cảm, tư tưởng… Do đó những cái mà chúng ta gọi là chiếc xe, là con người, chỉ là giả danh, không có thật, tức là “Không”. Do đó, Bồ Tát Long Thọ mới khẳng định qua bài kệ:

“Chúng nhơn duyên sinh pháp
Ngã thuyết tức thị không
Diệc vi thị giả danh
Diệc thị trung đạo nghĩa
Vị tằng hữu nhất pháp
Bất tùng nhân duyên sinh
Thị cố nhất thiết pháp
Vô bất thị không giả”

Nghĩa là:

Pháp do nhơn duyên sinh.
Cho nên nói pháp là Không.
Không cũng là giả danh.
Hiểu thế là trung đạo.
Chưa từng có một pháp nào,
Không từ nhơn duyên sinh.
Thế nên tất cả pháp,
Không pháp nào chẳng Không.

Trong Kinh Lăng Già Tâm Ấn, mỗi chúng sinh đều có một Như Lai Tâm tánh, thường trụ thành tịnh vạn lẳng, không sinh, không diệt, đó là Phật tánh chân như, nhưng do duyên khởi với 5 uẩn, với 12 xu, với 18 giới nên bị vô minh dẫn lối, đưa đường bởi tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, mà có luân hồi, đau khổ. Bồ Tát Mã Minh đã ví biển cả, tánh của nước là Như Lai Tạng, do vì có gió vô minh nên tâm thức vẫn đung đưa mới nổi sóng bảo ɡiữɑ; một khi ɡió yên, sóng lặnɡ thì biển cả mới hoàn lại như cũ.

Tóm lại, do phiền não và vô minh che lấp tâm tánh mà con người không nhận ra được tự tánh của vạn pháp là giải không, nên vướng nhiễm, chấp đâm và khổ đau. Chư Tổ Đức dạy chúng ta thọ trì Bát Nhã Tâm Kinh mỗi ngày sáu thời để giúp cho chúng ta huân tập chủng tử Bát Nh